Vì một môi trường xanh

Nhận báo giá sỉ Báo giá sỉ

THIẾT KẾ HỢP ĐỒNG PPP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO HIỆU SUẤT

Hợp tác công tư (PPP) có thể huy động vốn, công nghệ và năng lực quản trị cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), nhưng không tự động tạo ra hiệu quả môi trường. Đặc thù của dự án CTRSH là công trình được thiết kế cho một “nhiên liệu” có thành phần biến động theo mùa, địa bàn và hành vi phân loại.
Phạm vi tập trung vào dự án xử lý CTRSH tập trung có thời hạn hợp đồng dài, trong đó khu vực công chịu trách nhiệm tổ chức dòng rác và mua dịch vụ, còn nhà đầu tư chịu trách nhiệm thiết kế, huy động vốn, xây dựng và vận hành.

THIẾT KẾ HỢP ĐỒNG PPP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO HIỆU SUẤT: TỪ BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG ĐẦU VÀO ĐẾN CƠ CHẾ THANH TOÁN VÀ CHIA SẺ RỦI RO

KỸ SƯ MÔI TRƯỜNG NGUYỄN BÁ HỘI[1]

TÓM TẮT

Hợp tác công tư (PPP) có thể huy động vốn, công nghệ và năng lực quản trị cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), nhưng không tự động tạo ra hiệu quả môi trường. Đặc thù của dự án CTRSH là công trình được thiết kế cho một “nhiên liệu” có thành phần biến động theo mùa, địa bàn và hành vi phân loại; trong khi doanh thu phụ thuộc đồng thời vào lượng rác được giao, giá dịch vụ, điện năng hoặc vật liệu thu hồi và khả năng thanh toán của khu vực công. Nếu hợp đồng chỉ quy định công suất danh nghĩa và đơn giá theo tấn, nhà đầu tư có động lực tiếp nhận khối lượng nhưng chưa chắc tối ưu tỷ lệ tái chế, giảm chôn lấp và phát thải. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích hệ thống kỹ thuật, phân tích vòng đời hợp đồng và đối chiếu khung pháp luật để đề xuất mô hình hợp đồng PPP dựa trên hiệu suất. Mô hình gồm: khảo sát đặc tính rác có kiểm chứng; “cửa sổ chất lượng đầu vào”; thanh toán hai thành phần; bộ chỉ số hiệu suất môi trường - vận hành; cơ chế đo lường, báo cáo và thẩm tra độc lập; chia sẻ rủi ro theo nguyên tắc bên kiểm soát tốt nhất; và rà soát định kỳ để thích ứng với phân loại tại nguồn. Bài viết kiến nghị chuẩn hóa phụ lục kỹ thuật mẫu, cơ sở dữ liệu đầu vào, cơ chế điều chỉnh giá và thí điểm hợp đồng tại một số địa phương trước khi nhân rộng.

Từ khóa: chất thải rắn sinh hoạt; hợp tác công tư; hợp đồng theo hiệu suất; chất lượng rác đầu vào; thanh toán theo kết quả; chia sẻ rủi ro.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Quản lý CTRSH là một dịch vụ công thiết yếu nhưng có chuỗi kỹ thuật phức tạp, gồm phân loại tại nguồn, thu gom, trung chuyển, vận chuyển, tái chế, xử lý và quản lý phần còn lại. Chỉ cần một mắt xích vận hành không đồng bộ, hiệu suất của toàn hệ thống suy giảm. Rác hữu cơ bị trộn với vật liệu tái chế làm giảm giá trị thu hồi; độ ẩm cao làm giảm nhiệt trị; giao rác không ổn định khiến thiết bị phải chạy dưới tải; còn thiếu nơi tiêu thụ compost, nhiên liệu thu hồi hoặc tro xỉ làm phát sinh chi phí ngoài dự kiến.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã thiết lập các định hướng quan trọng về phân loại CTRSH tại nguồn, giá dịch vụ dựa trên lượng hoặc thể tích chất thải và giảm chôn lấp trực tiếp[2]. Luật Đầu tư theo phương thức PPP tạo khung huy động nguồn lực tư nhân, phân chia rủi ro và quản lý hợp đồng dài hạn[3]. Thông tư số 35/2024/TT-BTNMT tiếp tục chuẩn hóa quy trình kỹ thuật thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH[4]. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định và một dự án khả thi vẫn nằm ở chất lượng chuẩn bị dự án, dữ liệu rác, cấu trúc thanh toán và khả năng biến mục tiêu môi trường thành nghĩa vụ có thể đo lường.

Trong nhiều hồ sơ dự án, công nghệ thường được đặt ở trung tâm: đốt phát điện, compost, phân loại - tái chế, khí hóa hay chôn lấp hợp vệ sinh. Cách tiếp cận này chưa đủ. Không có công nghệ nào phù hợp với mọi loại rác và mọi địa phương. Một dây chuyền tốt vẫn có thể thất bại khi nhận loại rác khác xa giả thiết thiết kế, thiếu phụ tải, thiếu thị trường đầu ra hoặc hợp đồng không quy định trách nhiệm khi điều kiện thay đổi. Do đó, câu hỏi quan trọng không chỉ là “chọn công nghệ nào”, mà là “thiết kế hệ thống hợp đồng nào để công nghệ được lựa chọn và vận hành đúng trong suốt vòng đời dự án”.

Bài viết tiếp cận vấn đề từ góc nhìn kỹ sư môi trường: coi hợp đồng PPP là một cấu phần của hệ thống kiểm soát quá trình. Hợp đồng cần xác định biến đầu vào, giới hạn vận hành, chỉ tiêu đầu ra, phương pháp đo, phản hồi và cơ chế hiệu chỉnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất khung hợp đồng xử lý CTRSH theo hiệu suất, phù hợp với điều kiện dữ liệu và năng lực quản lý địa phương tại Việt Nam.

2. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đây là nghiên cứu định tính dựa trên phân tích chính sách, phân tích hệ thống kỹ thuật và tổng hợp dữ liệu thứ cấp; không thực hiện khảo sát dự án hoặc kiểm định thực nghiệm. Bốn nhóm phương pháp được sử dụng gồm: phân tích chuỗi vật chất; phân tích vòng đời dự án; phân tích rủi ro theo khả năng kiểm soát và chịu rủi ro; và đối chiếu pháp luật Việt Nam với hợp đồng mẫu, hướng dẫn PPP chất thải cùng dữ liệu quốc tế của Ngân hàng Thế giới.[5]

Phạm vi tập trung vào dự án xử lý CTRSH tập trung có thời hạn hợp đồng dài, trong đó khu vực công chịu trách nhiệm tổ chức dòng rác và mua dịch vụ, còn nhà đầu tư chịu trách nhiệm thiết kế, huy động vốn, xây dựng và vận hành. Mô hình có thể áp dụng cho đốt rác phát điện, xử lý cơ - sinh học, thu hồi vật liệu, compost hoặc tổ hợp nhiều công nghệ. Bài viết không xây dựng một đơn giá cụ thể vì chi phí phụ thuộc địa điểm, quy mô, công nghệ và điều kiện tài chính; thay vào đó đề xuất cấu trúc và công thức nguyên tắc để địa phương lượng hóa trong báo cáo nghiên cứu khả thi.

3. ĐIỂM NGHẼN KỸ THUẬT - HỢP ĐỒNG CỦA DỰ ÁN CTRSH

3.1. Rác đầu vào không phải một hàng hóa đồng nhất

CTRSH biến động theo mùa, thu nhập, tập quán tiêu dùng và hệ thống thu gom. Các thông số quyết định công nghệ gồm tỷ lệ hữu cơ, độ ẩm, nhiệt trị thấp, hàm lượng tro, clo, kim loại, vật liệu trơ và kích thước. Sai số trong khảo sát đầu vào có thể dẫn tới thiết kế lò, hệ thống tiền xử lý, xử lý khí thải, nước rỉ rác và kho lưu chứa không phù hợp. Một vài mẫu lấy trong thời gian ngắn không đủ đại diện cho hợp đồng kéo dài hàng chục năm.

Phân loại tại nguồn càng làm bài toán thay đổi. Khi vật liệu tái chế và hữu cơ được tách tốt, lượng rác còn lại giảm nhưng nhiệt trị có thể tăng hoặc giảm tùy mô hình. Nếu hợp đồng bảo đảm khối lượng cứng trong nhiều năm, địa phương có thể rơi vào nghịch lý: chính sách giảm rác và tái chế thành công lại tạo nghĩa vụ bồi thường vì thiếu rác cho nhà máy. Ngược lại, nếu không có cam kết tối thiểu hợp lý, nhà đầu tư khó huy động vốn.

3.2. Thanh toán theo tấn chưa phản ánh đầy đủ kết quả

Đơn giá trên mỗi tấn dễ quản lý, nhưng nếu là chỉ số duy nhất sẽ khuyến khích tối đa hóa khối lượng tiếp nhận. Hai nhà máy nhận cùng một lượng rác có thể tạo kết quả rất khác nhau: một nhà máy thu hồi vật liệu và năng lượng, kiểm soát phát thải tốt, chỉ chôn lấp lượng nhỏ; nhà máy khác tiêu hao nhiều phụ liệu và đưa phần lớn sản phẩm không đạt chuẩn ra bãi chôn lấp. Thanh toán như nhau sẽ không thưởng cho hiệu quả môi trường.

Cũng không nên chuyển hoàn toàn sang trả tiền theo sản lượng điện. Điện năng phụ thuộc chất lượng rác, lịch giao rác và yêu cầu điều độ, trong khi mục tiêu cốt lõi vẫn là xử lý an toàn. Nếu chỉ số điện được đặt quá cao, nhà đầu tư có thể ưu tiên rác có nhiệt trị tốt, sử dụng nhiên liệu hỗ trợ hoặc giảm tiếp nhận rác khó xử lý. Hợp đồng cần cân bằng giữa tính sẵn sàng của dịch vụ và kết quả môi trường.

3.3. Ranh giới trách nhiệm thường mờ

Nhiều sự cố nằm tại giao diện giữa các bên: rác giao lẫn chất thải nguy hại; xe đến dồn vào một khung giờ; trạm cân mất dữ liệu; người dân phản ánh mùi nhưng chưa rõ nguồn; tro xỉ không có nơi tiếp nhận; hoặc lưới điện hạn chế giải tỏa công suất. Nếu hợp đồng chỉ ghi “phối hợp xử lý”, tranh chấp sẽ kéo dài và ngân hàng định giá rủi ro cao hơn.

Rủi ro không nên được đẩy tối đa sang tư nhân. Một rủi ro mà nhà đầu tư không kiểm soát được sẽ được cộng vào giá dự thầu, làm giảm cạnh tranh hoặc khiến dự án đổ vỡ. Nguyên tắc đúng là phân bổ cho bên có khả năng phòng ngừa, kiểm soát hoặc hấp thụ rủi ro với chi phí thấp nhất; rủi ro còn lại được chia sẻ bằng ngưỡng, hành lang và công thức minh bạch.

4. KHUNG HỢP ĐỒNG PPP THEO HIỆU SUẤT

4.1. Xây dựng đường cơ sở đầu vào

Trước khi lựa chọn công nghệ và nhà đầu tư, cơ quan chuẩn bị dự án cần thực hiện chương trình đặc trưng hóa rác tối thiểu qua mùa mưa và mùa khô, bao phủ các nhóm khu dân cư, chợ và nguồn thương mại tương tự rác sinh hoạt. Kế hoạch lấy mẫu phải quy định điểm lấy, tần suất, khối lượng mẫu, phương pháp chia mẫu, phòng thí nghiệm và kiểm soát chất lượng. Dữ liệu thô cần được cung cấp cho nhà đầu tư cùng phương pháp thống kê, không chỉ công bố giá trị trung bình.

Bộ dữ liệu tối thiểu gồm: lượng rác theo ngày và giờ; thành phần vật lý; độ ẩm; chất rắn bay hơi; nhiệt trị thấp; hàm lượng tro; clo tổng; tỷ lệ vật liệu cồng kềnh, trơ và chất không phù hợp; mật độ khối; nước rỉ phát sinh; quãng đường và thời gian vận chuyển. Đồng thời phải dự báo kịch bản phân loại tại nguồn, tăng dân số, thay đổi tiêu dùng và điều chỉnh địa giới phục vụ.

Hợp đồng không nên cam kết một giá trị duy nhất mà thiết lập “cửa sổ chất lượng đầu vào”. Trong cửa sổ, nhà đầu tư chịu rủi ro vận hành bình thường. Khi thông số vượt ngưỡng cảnh báo, hai bên áp dụng chế độ vận hành và giám sát tăng cường. Khi vượt ngưỡng loại trừ, lô rác được từ chối, tiền xử lý riêng hoặc điều chỉnh thanh toán. Cơ chế này buộc khu vực công cải thiện thu gom và giúp nhà đầu tư không biến mọi biến động nhỏ thành yêu cầu bồi thường.

Bảng 1. Khung chỉ tiêu kiểm soát rác đầu vào đề xuất

Nhóm chỉ tiêu

Cách đo

Ý nghĩa hợp đồng

Khối lượng và lịch giao

Cân điện tử, dữ liệu theo ca

Kiểm chứng nghĩa vụ cung cấp và tính sẵn sàng

Độ ẩm, nhiệt trị thấp

Lấy mẫu tổ hợp, phân tích định kỳ

Kiểm soát tải nhiệt, nhiên liệu hỗ trợ, hiệu suất năng lượng

Hữu cơ, tái chế, trơ

Phân loại mẫu theo nhóm

Điều chỉnh tuyến công nghệ và mục tiêu thu hồi

Chất không phù hợp

Kiểm tra tại cửa nhận, lưu ảnh

Xác định quyền từ chối và chi phí xử lý riêng

Clo, kim loại và tro

Phân tích phòng thí nghiệm

Dự báo ăn mòn, phát thải và chất lượng tro xỉ

Biến động theo mùa

Chuỗi số liệu tối thiểu 12 tháng

Hạn chế sai lệch giả thiết thiết kế

 
Ngưỡng số cụ thể phải được xác lập từ khảo sát địa phương và bảo đảm công nghệ trung lập. Cơ quan nhà nước nên mô tả kết quả cần đạt và điều kiện biên, không “đóng khung” một nhãn công nghệ khi chưa đánh giá đầy đủ vòng đời.

4.2. Thanh toán hai thành phần

Bài viết đề xuất khoản thanh toán dịch vụ tháng gồm hai phần: khoản sẵn sàng và khoản biến đổi theo khối lượng, sau đó điều chỉnh bởi hệ số hiệu suất: Công thức dưới đây là mô hình khái niệm do tác giả đề xuất để minh họa cấu trúc thanh toán, không phải công thức bắt buộc hoặc định mức pháp lý hiện hành.

P = A × Ka + Q × U × Kp - D + C

Trong đó: P là thanh toán kỳ; A là khoản thanh toán cho công suất sẵn sàng; Ka là hệ số sẵn sàng; Q là khối lượng rác hợp lệ đã xử lý; U là đơn giá biến đổi; Kp là hệ số hiệu suất; D là khấu trừ do không đạt KPI; C là khoản điều chỉnh hợp lệ do thay đổi pháp luật, chất lượng rác ngoài cửa sổ hoặc sự kiện chia sẻ rủi ro.

Khoản A giúp hoàn trả chi phí vốn và chi phí cố định khi nhà máy sẵn sàng nhưng lượng rác thực tế biến động trong giới hạn do khu vực công hoặc chính sách giảm rác. Khoản Q × U chi trả chi phí biến đổi. Kp tạo động lực đối với tỷ lệ chuyển hướng khỏi chôn lấp, hiệu quả năng lượng, độ tin cậy và tuân thủ môi trường. Tỷ trọng mỗi phần phải được mô hình hóa để không bảo lãnh lợi nhuận bất kể hiệu quả, nhưng cũng không khiến dòng tiền phụ thuộc hoàn toàn vào khối lượng rác.

Cơ chế điều chỉnh giá cần phân biệt lạm phát, điện, hóa chất, nhân công và thay đổi tiêu chuẩn bắt buộc. Chỉ số hóa máy móc theo một chỉ số chung dễ tạo sai lệch. Công thức nên có trọng số chi phí được xác lập từ mô hình tài chính và kiểm toán được; phần rủi ro mà nhà đầu tư có thể quản lý phải giữ cố định hoặc chỉ điều chỉnh một phần.

4.3. Bộ KPI cân bằng

KPI cần ít, đo được, có liên hệ trực tiếp với mục tiêu và không tạo động lực sai. Bốn nhóm cốt lõi gồm: (i) dịch vụ - công suất sẵn sàng, tỷ lệ tiếp nhận rác hợp lệ, thời gian dừng; (ii) môi trường - tuân thủ khí thải, nước thải, mùi, tiếng ồn, quản lý tro xỉ; (iii) tài nguyên - tỷ lệ thu hồi, tỷ lệ chuyển hướng khỏi chôn lấp, hiệu suất năng lượng; (iv) xã hội và quản trị - an toàn lao động, xử lý khiếu nại, công khai dữ liệu.

Bảng 2. Bộ chỉ số hiệu suất tối thiểu đề xuất

Chỉ số

Đơn vị/định nghĩa

Cơ chế hợp đồng

Tính sẵn sàng

% công suất khả dụng theo lịch

Điều chỉnh Ka; loại trừ bảo trì được duyệt

Tỷ lệ chuyển hướng khỏi chôn lấp

(Rác vào - phần chôn lấp)/rác vào

Thưởng theo bậc; xác minh khối lượng phần dư

Tuân thủ phát thải

% thời gian/đợt đạt quy chuẩn và giấy phép

Khấu trừ; vi phạm nghiêm trọng là sự kiện chấm dứt

Cường độ tiêu hao

Điện, nhiên liệu, nước, hóa chất/tấn

So sánh đường cơ sở; cảnh báo hiệu suất

Hiệu suất năng lượng ròng

kWh xuất lưới/tấn rác hợp lệ

Thưởng trong giới hạn, hiệu chỉnh theo nhiệt trị

Chất lượng sản phẩm

Tỷ lệ lô compost, vật liệu, tro xỉ đạt chuẩn

Chỉ ghi nhận thu hồi khi có đầu ra hợp pháp

Khiếu nại môi trường

Số vụ xác nhận và thời gian xử lý

Khấu trừ theo mức độ, công khai kết quả

 

Không nên tính “tái chế” khi vật liệu chỉ được chuyển sang kho hoặc cơ sở khác mà không chứng minh đầu ra. Không nên tính tro xỉ là sản phẩm nếu chưa đạt yêu cầu và chưa có nơi sử dụng hợp pháp. Cân bằng vật chất phải được khép kín: tổng rác đầu vào bằng sản phẩm, vật liệu thu hồi, phát thải chuyển hóa, phần dư và sai số cho phép.

4.4. Đo lường, báo cáo và thẩm tra

Hệ thống đo lường phải được thiết kế ngay trong dự án, không bổ sung sau khi vận hành. Trạm cân cần nhận dạng phương tiện, camera, đồng bộ thời gian và lưu dữ liệu không thể sửa đơn phương. Hệ thống quan trắc tự động, dữ liệu vận hành phân tán, nhật ký phòng thí nghiệm và hồ sơ chuyển giao phần dư phải liên kết bằng mã lô hoặc ca sản xuất. Cơ quan nhà nước được truy cập dữ liệu gần thời gian thực nhưng không can thiệp vào điều khiển nhà máy.

Đơn vị thẩm tra độc lập được lựa chọn theo cơ chế bảo đảm không phụ thuộc nhà đầu tư hoặc cơ quan thanh toán. Phạm vi gồm hiệu chuẩn thiết bị, kiểm tra chuỗi lưu giữ mẫu, đối chiếu cân bằng vật chất, kiểm toán KPI và điều tra sự cố. Tần suất kiểm tra dựa trên rủi ro: tăng khi có bất thường và giảm khi nhà máy duy trì lịch sử tuân thủ tốt.

Thông tin công khai nên gồm dữ liệu tổng hợp về lượng rác, tỷ lệ chôn lấp, phát thải chính và xử lý khiếu nại; đồng thời bảo vệ bí mật thương mại hợp lý. Minh bạch làm giảm xung đột cộng đồng và tạo kỷ luật cho cả hai phía hợp đồng.

5. PHÂN BỔ RỦI RO THEO NĂNG LỰC KIỂM SOÁT

Bảng 3. Ma trận phân bổ rủi ro trọng yếu

Rủi ro

Bên chịu chính

Cơ chế giảm thiểu/chia sẻ

Sai lệch dữ liệu nền do khảo sát yếu

Khu vực công/chia sẻ

Khảo sát độc lập; quyền thẩm định; điều chỉnh khi sai lệch trọng yếu

Thiết kế, xây dựng, vận hành

Nhà đầu tư

Bảo lãnh thực hiện; thử nghiệm hoàn thành; KPI và bảo hiểm

Lượng rác trong hành lang dự báo

Chia sẻ

Thanh toán sẵn sàng; dải tối thiểu - tối đa; rà soát định kỳ

Chất lượng rác trong cửa sổ

Nhà đầu tư

Dự phòng thiết kế và tiền xử lý

Rác ngoài cửa sổ/chất cấm

Khu vực công hoặc bên gây ra

Từ chối, xử lý riêng, bồi hoàn chi phí được kiểm chứng

Thị trường điện/vật liệu thu hồi

Nhà đầu tư/chia sẻ

Kịch bản giá; hợp đồng tiêu thụ; không dựa quá mức vào doanh thu phụ

Đất đai và bàn giao mặt bằng

Khu vực công

Hoàn tất điều kiện tiên quyết trước đóng tài chính

Thay đổi pháp luật

Chia sẻ

Ngưỡng trọng yếu, nghĩa vụ giảm thiểu, điều chỉnh có kiểm toán

Phản đối cộng đồng do vận hành

Nhà đầu tư

Kiểm soát mùi, giao thông, cơ chế khiếu nại

Phản đối do lựa chọn địa điểm

Khu vực công/chia sẻ

Tham vấn sớm, quy hoạch và công khai đánh giá môi trường

 

 

Cam kết lượng rác cần là một hành lang, không phải bảo đảm “take-or-pay” tuyệt đối. “Take-or-pay” là cơ chế bên mua phải nhận một lượng dịch vụ tối thiểu hoặc vẫn thanh toán cho phần đã cam kết dù không sử dụng hết. Lượng tối thiểu phục vụ khả năng vay vốn, nhưng phải có quyền giảm theo lộ trình phân loại, tái chế và ngăn ngừa chất thải đã công bố. Chu kỳ rà soát ba đến năm năm được đề xuất để cân bằng độ ổn định tài chính với khả năng cập nhật quy hoạch, dự báo dân số và kết quả phân loại tại nguồn; thời hạn cụ thể phải căn cứ mô hình tài chính và dữ liệu từng dự án. Phần chênh lệch trong biên độ do nhà đầu tư hấp thụ, phần vượt biên độ được xử lý theo công thức đã định.

Doanh thu từ điện, tín chỉ carbon, vật liệu tái chế và sản phẩm phụ nên được mô hình hóa thận trọng. Có thể áp dụng cơ chế chia sẻ phần vượt ngưỡng để giảm giá dịch vụ, nhưng không nên dùng giả định lạc quan nhằm làm đẹp phương án tài chính. Ngân sách cuối cùng vẫn phải bảo đảm khả năng chi trả dịch vụ thiết yếu trong kịch bản doanh thu phụ thấp.

6. LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ TRÊN CƠ SỞ VÒNG ĐỜI

Hồ sơ mời thầu cần yêu cầu nhà đầu tư chứng minh cân bằng khối lượng - năng lượng, tiêu hao, phát thải, phần dư và chi phí vòng đời trong các kịch bản rác. Đánh giá không chỉ dựa vào mức đầu tư hoặc đơn giá thấp nhất. Một phương án rẻ ở cổng nhà máy nhưng tạo nhiều tro xỉ, nước rỉ, mùi hoặc yêu cầu chôn lấp xa có thể đắt hơn cho toàn hệ thống.

Tiêu chí kỹ thuật nên trung lập về công nghệ nhưng chặt về đầu ra: tỷ lệ chôn lấp tối đa; khả năng tiếp nhận trong dải chất lượng; mức phát thải; độ sẵn sàng; tiêu hao tài nguyên; diện tích; khả năng mở rộng; an toàn; và kế hoạch dừng, đóng cửa. Nhà thầu phải trình dữ liệu tham chiếu từ cơ sở tương đồng về thành phần rác và quy mô, không chỉ chứng minh thiết bị đã từng được lắp đặt ở nơi có rác khô và phân loại tốt.

Quá trình chạy thử cần kéo dài đủ để kiểm tra nhiều chế độ tải và được coi là cổng chuyển từ xây dựng sang thanh toán đầy đủ. Thử nghiệm gồm công suất, phát thải, tiêu hao, cân bằng vật chất, chất lượng sản phẩm và khả năng xử lý khi thông số đầu vào chạm biên cửa sổ. Nếu không đạt, nhà đầu tư phải khắc phục và thử lại; cơ quan nhà nước không nên chấp nhận công trình chỉ vì đã hoàn thành xây dựng.

7. TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

Khi tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, vai trò phải được quy định theo chức năng thay vì tên đơn vị dễ thay đổi. Cấp tỉnh/thành phố chịu trách nhiệm quy hoạch hệ thống, chuẩn bị và ký hợp đồng dự án, bảo đảm nguồn thanh toán, quản lý dữ liệu, kiểm tra môi trường và điều phối liên địa bàn. Cấp cơ sở tổ chức truyền thông phân loại, giám sát điểm tập kết, tiếp nhận phản ánh và phối hợp kiểm chứng chất lượng dịch vụ.

Nên thành lập một đơn vị quản lý hợp đồng liên ngành có nhân sự kỹ thuật môi trường, tài chính, pháp lý và dữ liệu. PPP không kết thúc khi ký hợp đồng; năng lực quản lý trong 20-30 năm quan trọng không kém năng lực đấu thầu. Kinh phí cho tư vấn độc lập, hiệu chuẩn, lấy mẫu và kiểm toán KPI phải được dự toán như chi phí thiết yếu của dịch vụ.

Trước khi đấu thầu, địa phương cần hoàn thành tối thiểu: quy hoạch và tình trạng đất; khảo sát rác; đánh giá phương án; kế hoạch phân loại; khả năng đấu nối; tuyến vận chuyển; đầu ra phần dư; cơ chế giá và nguồn chi; tham vấn cộng đồng; dự thảo hợp đồng cùng ma trận rủi ro. Công bố dự án khi các điều kiện nền chưa rõ chỉ làm tăng chi phí dự thầu và nguy cơ đàm phán lại.

8. KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH VÀ LỘ TRÌNH THÍ ĐIỂM

Thứ nhất, trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường và văn bản hướng dẫn, cần bổ sung nguyên tắc quản lý hợp đồng xử lý CTRSH theo kết quả: thanh toán gắn với khối lượng hợp lệ, tính sẵn sàng và hiệu suất môi trường; dữ liệu đo lường là căn cứ nghiệm thu; trách nhiệm đối với chất lượng rác đầu vào được phân định rõ. Kiến nghị này gắn với thông tin tại Thông báo mời viết bài của hội thảo về việc cơ quan quản lý đang lấy ý kiến nội dung sửa đổi liên quan đầu tư xử lý CTRSH.[6]

Thứ hai, cơ quan chuyên môn trung ương nên ban hành bộ phụ lục kỹ thuật mẫu dùng cho dự án xử lý CTRSH, gồm quy trình đặc trưng hóa rác, mẫu “cửa sổ đầu vào”, bộ KPI, phương pháp cân bằng vật chất, yêu cầu dữ liệu và nguyên tắc điều chỉnh giá. Mẫu là khung tham chiếu, cho phép địa phương hiệu chỉnh bằng số liệu thực tế, không áp đặt một ngưỡng chung cho mọi vùng.

Thứ ba, cần hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc liên thông về phát sinh, thành phần, công nghệ và hiệu suất cơ sở xử lý. Mỗi dự án được mã hóa dữ liệu theo cùng cấu trúc để so sánh đơn giá sau khi hiệu chỉnh theo chất lượng rác, quy mô và tiêu chuẩn đầu ra. Dữ liệu tốt giúp giảm bất cân xứng thông tin, nâng chất lượng báo cáo nghiên cứu khả thi và hỗ trợ tín dụng xanh.

Thứ tư, tín dụng xanh nên dựa trên kết quả có thẩm tra, không chỉ tên công nghệ. Một dự án đốt rác không mặc nhiên “xanh” nếu hiệu suất thấp, phát thải không ổn định hoặc phụ thuộc chôn lấp phần dư. Các ngân hàng có thể sử dụng KPI của hợp đồng, báo cáo quan trắc và cân bằng vật chất làm điều kiện giải ngân, duy trì lãi suất ưu đãi hoặc khắc phục vi phạm.

Thứ năm, lựa chọn từ ba đến năm địa phương đại diện cho đô thị lớn, đô thị trung bình và cụm địa phương nông thôn để thí điểm. Giai đoạn 1 (12 tháng) xây dựng dữ liệu nền và hồ sơ mẫu; giai đoạn 2 lựa chọn nhà đầu tư, chạy thử và hiệu chỉnh KPI; giai đoạn 3 đánh giá độc lập sau hai năm vận hành. Kết quả phải công bố cả thành công, chi phí phát sinh và tranh chấp để tạo bằng chứng cho sửa đổi chính sách.

Thứ sáu, tăng cường tham vấn thị trường trước đấu thầu nhưng bảo đảm cạnh tranh. Đối thoại kỹ thuật giúp kiểm tra tính khả thi của ngưỡng đầu vào, cơ chế thanh toán và khả năng vay vốn. Mọi câu hỏi, trả lời và thay đổi hồ sơ cần được công khai bình đẳng, tránh thiết kế tiêu chí theo một công nghệ hoặc nhà đầu tư đã định trước.

9. KẾT LUẬN

Thu hút tư nhân vào xử lý CTRSH không chỉ là tìm nguồn vốn thay ngân sách. Giá trị lớn hơn của PPP nằm ở khả năng kết hợp kỷ luật hợp đồng, công nghệ và quản trị dài hạn để tạo dịch vụ môi trường có chất lượng. Nhưng nếu dữ liệu đầu vào yếu, thanh toán chỉ theo tấn và rủi ro bị đẩy sang bên không kiểm soát được, PPP sẽ trở thành một cam kết ngân sách dài hạn mà không bảo đảm giảm ô nhiễm.

Hợp đồng theo hiệu suất được đề xuất trong bài viết bắt đầu từ bản chất kỹ thuật của CTRSH: đầu vào biến động, quá trình cần điều kiện biên và đầu ra phải được đo. “Cửa sổ chất lượng”, thanh toán hai thành phần, KPI cân bằng, thẩm tra độc lập và ma trận rủi ro là các cấu phần liên kết; thiếu một cấu phần sẽ làm suy yếu toàn bộ cơ chế.

Trong giai đoạn sửa đổi pháp luật và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam có cơ hội chuyển từ quản lý dự án theo công suất danh nghĩa sang quản lý dịch vụ theo kết quả. Cần thí điểm có kiểm chứng trước khi nhân rộng, chuẩn hóa dữ liệu và hợp đồng nhưng vẫn tôn trọng khác biệt địa phương. Khi mỗi tấn rác được theo dõi từ cửa nhận đến đầu ra cuối cùng, dòng tiền công mới có thể gắn chặt với giá trị môi trường mà xã hội thực sự nhận được.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14, ngày 17/11/2020.

[2] Quốc hội (2020), Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14, ngày 18/6/2020.

[3] Chính phủ (2022), Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ngày 10/1/2022.

[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024), Thông tư số 35/2024/TT-BTNMT ban hành quy trình kỹ thuật thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH, ngày 19/12/2024.

[5] World Bank Group, Sample Municipal Solid Waste (MSW) PPP Agreements, Public-Private Partnership Resource Center.

[6] World Bank Group (2026), What a Waste 3.0: Global Snapshot of Solid Waste Management Toward Circularity until 2050, Washington, D.C.

[7] World Bank Group, Municipal Public-Private Partnership Framework and waste-management toolkits, Public-Private Partnership Resource Center.

[8] Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (2026), Thông báo số 401-TB/VĐLNVPTBV ngày 16/7/2026 về Hội thảo “Mô hình hợp tác công tư, thu hút đầu tư tư nhân trong các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Kinh nghiệm triển khai và đề xuất sửa đổi”.

 

[1] Tác giả là kỹ sư môi trường, có hơn 15 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực quản lý môi trường ở Sở Nông nghiệp và Môi trường TP.HCM. Hiện tác giả là Giám đốc Điều hành (CEO) SG PLASTIC và là Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thực hành sống xanh.

[2] Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020; Chính phủ (2022), Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

[3] Quốc hội (2020), Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14 ngày 18/6/2020.

[4] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2024), Thông tư số 35/2024/TT-BTNMT ngày 19/12/2024 ban hành quy trình kỹ thuật thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

[5] World Bank Group, Sample Municipal Solid Waste PPP Agreements, Public-Private Partnership Resource Center; World Bank Group (2026), What a Waste 3.0: Global Snapshot of Solid Waste Management Toward Circularity until 2050.

[6] Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (2026), Thông báo số 401-TB/VĐLNVPTBV ngày 16/7/2026 về Hội thảo “Mô hình hợp tác công tư, thu hút đầu tư tư nhân trong các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Kinh nghiệm triển khai và đề xuất sửa đổi”.

  • 19/08/2026
zalo-img.webp
Báo giá đơn hàng sỉ
Báo giá

Bạn vui lòng để lại thông tin gồm: Tên doanh nghiệp hay cá nhân, điện thoại, địa chỉ email, chi tiết sản phẩm để chúng tôi phục vụ bạn tốt nhất. Trân trọng !